MÔ HÌNH XẾP HẠNG

Đây là 2 mô hình xếp hạng rủi ro tín dụng tự động và miễn phí (chỉ cần đăng nhập) mà doanh nghiệp có thể tham khảo. Một là chỉ số Z do GS. Altman xây dựng nhằm dự báo nguy cơ phá sản, với độ chính xác 95% - 97% trước 1 năm xảy ra phá sản. Hai là chỉ số do BQT website lập ra, nhằm dự báo xác suất có nợ quá hạn trên 90 ngày trong vòng 1 – 2 năm tới, với độ chính xác 85%. Để thử mô hình, Bạn đọc nên vào mục giới thiệu để đọc hướng dẫn sử dụng trước. Tool

ONLINE

  Số người đang online : 44
  Tổng số người truy cập : 233474

LIÊN HỆ TRỰC TUYẾN

QUẢNG CÁO





( Rating.com.vn - Tuesday 10.13.09 7:21 pm )

Tự do hóa thị trường mua bán nợ xấu, tại sao không?Theo thống kê, hiện nay nợ xấu trong các ngân hàng có thể lên đến 50 - 60 nghìn tỷ đồng, nếu như theo các tiêu chuẩn quốc tế thì có thể con số này còn cao hơn rất nhiều.

Thị trường mua bán nợ xấu còn khá mới mẻ ở Việt Nam, hiện tại chỉ có một đơn vị duy nhất đó là Công ty Mua bán nợ và Tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) - thuộc Bộ Tài chính thực hiện công việc này.

Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu sẽ cổ phần hóa hết 1.500 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vào ngày 1/7/2010 tới đây thì việc tự do hóa thị trường này được cho là quan trọng hơn bao giờ hết. Cafef.vn đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Mạnh Thường - Phó Tổng giám đốc DATC về vấn đề này.

Ông đánh giá như thế nào về quy mô nợ xấu của các doanh nghiệp hiện nay?

Theo thống kê, hiện nay nợ xấu trong các ngân hàng của Việt Nam có thể lên đến 50 - 60 nghìn tỷ đồng, nhưng nếu như theo các tiêu chuẩn quốc tế thì có thể con số này còn cao hơn rất nhiều.

Do các yếu tố lịch sử nên đại đa số các khoản nợ xấu này nằm tại các ngân hàng thương mại nhà nước với khách nợ là các doanh nghiệp nhà nước.

Nếu số nợ trên không được xử lý thì một mặt hệ thống ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro thanh khoản, xã hội đi một nguồn lực vốn và mặt khác các DNNN mắc nợ không thể cổ phần hóa được.

Đặc biệt, trong số khoảng 1.500 DNNN còn lại phải cổ phần hóa (hạn cuối là ngày 1/7/2010) sẽ có nhiều tổng công ty không cổ phần hóa toàn tổng được do còn nhiều đơn vị thành viên không thể cổ phần hóa do những tồn tại tài chính. Chẳng hạn như, các Tổng công ty hoạt động trong ngành xây dựng công trình giao thông, vận tải thủy, ngành chế biến thực phẩm...

Công ty mua bán nợ đã mua trên 6.500 tỷ đồng nợ xấu từ các ngân hàng và triển khai xử lý tồn tại tài chính cho khoảng 100 doanh nghiệp; trong đó đa số là DNNN không cổ phần hóa được hoặc tổng công ty cổ phần hoạt động yếu kém do bị ép cổ phần hóa.

Năm 2009 được xem là một năm khó khăn đối với nền kinh tế, theo ông số lượng doanh nghiệp bị rơi vào tình trạng nợ xấu có tăng lên nhiều không?

Hiện nay, chưa có một thống kê cụ thể nhưng qua thực tế mà chúng tôi đã khảo sát thì số doanh nghiệp không có khả năng trả nợ của năm 2009 sẽ tăng lên một cách đáng kể. Thể hiện là con số các doanh nghiệp cần phải xử lý nợ xấu để chuyển sang trạng thái bình thường thì có nhu cầu rất lớn.

Những doanh nghiệp bị tác động nhiều sau khủng hoảng ví dụ như là chế biến nông lâm thuỷ sản, xuất khẩu, công nghiệp nhẹ, ngành xây dựng, giao thông...

Bởi vì khi khủng hoảng xảy ra thì cái luồng tiền đi vào những lĩnh vực đó đều bị giảm, nhiều doanh nghiệp không thể xuất khẩu hàng hoá hoặc không thể thực hiện các công trình từ đó cũng dẫn đến việc phát sinh nợ xấu.

Cách xử lý thông thường của DATC khi tiếp nhận các doanh nghiệp có nợ xấu như thế nào, thưa ông?

Có nhiều các xử lý khác nhau nhưng xuất phát từ thực tế của Việt Nam và chức năng nhiệm vụ được giao nên Công ty mua bán nợ tiếp cận xử lý nợ xấu chủ yếu theo cách thức xử lý tồn tại tài chính để tái cơ cấu phục hồi hoạt động hoặc chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp khách nợ.

Hiện tại thị trường mua bán nợ xấu của các DNNN đang được độc quyền bởi DATC. Theo ông chúng ta có nên tự do hóa thị trường này, để nhiều doanh nghiệp tham gia không?

Thị trường mua bán nợ xấu còn khá mới mẻ ở Việt Nam trong khi đó số lượng doanh nghiệp cần phải xử lý nợ xấu để có thể tái cấu trúc lại rất nhiều, nếu coi nợ xấu như một món hàng thì việc tự do hóa thị trường này là điều nên làm.

Bởi vì một khi đã là hàng hoá trên thị trường và cái việc định giá cho cái nợ xấu đó phải thông qua thị trường, mặc dù chúng ta có các nghiệp vụ khác nhau về định giá.

Như vậy thì chúng ta mới mở được cho tất cả các nhà đầu tư kể cả trong nước và nước ngoài cùng tham gia và từ đó sẽ hình thành thị trường mua bán nợ sơ cấp. Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán nợ giữa các ngân hàng chủ nợ với các nhà đầu tư xử lý nợ xấu.

Và tiếp đó là chúng ta có thể hình thành được thị trường mua bán nợ thứ cấp. Đó là thị trường cho việc đầu tư mua bán khi mua bán nợ những khoản nợ xấu đã được mua bán ở thị trường sơ cấp.

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trong khu vực là nền kinh tế càng phát triển, nợ xấu gia tăng thì việc phát triển thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp rất cần thiết. Trong đó bao gồm cả các sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân trong nước và các nhà đầu tư tư nhân nước ngoài.

Cần có cơ chế quản lý như thế nào để có được thị trường hoạt động được như ông nói?

Để cơ chế đó hoạt động tốt thì chúng ta cần xác định được giữa một bên là vai trò của nhà nước và một bên kia là vai trò của thi trường.

Thị trường thì luôn nhanh nhạy và nó luôn đáp ứng được đòi hỏi của các chủ thể tham gia, nhưng cái việc tham gia của các chủ thể có tích cực được hay không nó còn phụ thuộc vào quan điểm và các cơ chế của nhà nước.

Thứ nhất, cần phải đổi mới về mặt tư duy, tư duy ở những cơ quan quản lý nhà nước và các nhà đầu tư cần có độ tư duy mở.

Thứ hai, nữa là cái độ phản ứng chính sách là phải nhạy với những đòi hỏi của thị trường.

Thứ ba, cần có những khuôn khổ pháp lý đủ rộng đủ rõ cho các tổ chức, bản thân cho ngân hàng để có nợ và cho nhà đầu tư để người ta đầu tư mua bán xử lý nợ xấu. Ở nhiều nước trong khu vực ví dụ như Malayxia, Hàn Quốc, người ta có hẳn những bộ luật về mua bán xử lý nợ xấu...

Hạnh Lệ (thực hiện) - Theo CAFEF


Bình chọn bài viết
Điểm trung bình : Tổng điểm : 1 / 1
Bình chọn :
Đánh giá bài viết
Đánh giá bài viết
Họ và tên :
Email :
Nội Dung :
 

Tin mới hơn
Tin cũ hơn