MÔ HÌNH XẾP HẠNG

Đây là 2 mô hình xếp hạng rủi ro tín dụng tự động và miễn phí (chỉ cần đăng nhập) mà doanh nghiệp có thể tham khảo. Một là chỉ số Z do GS. Altman xây dựng nhằm dự báo nguy cơ phá sản, với độ chính xác 95% - 97% trước 1 năm xảy ra phá sản. Hai là chỉ số do BQT website lập ra, nhằm dự báo xác suất có nợ quá hạn trên 90 ngày trong vòng 1 – 2 năm tới, với độ chính xác 85%. Để thử mô hình, Bạn đọc nên vào mục giới thiệu để đọc hướng dẫn sử dụng trước. Tool

ONLINE

  Số người đang online : 42
  Tổng số người truy cập : 233398

LIÊN HỆ TRỰC TUYẾN

QUẢNG CÁO





( Rating.com.vn - Monday 08.29.11 11:01 am )

Giải bài toán lãi suất cao: nhìn từ góc độ vi mô của mỗi doanh nghiệpDư nợ trong hệ thống ngân hàng đã tăng gần 200% trong ba năm qua và cho đến thời điểm hiện dư nợ đã lên tới 120% tổng sản phẩm quốc nội ("GDP"), một tỷ lệ cao báo động trên thế giới.

Bắt nguồn từ việc các doanh nghiệp Việt nam đã được tiếp cận với nguồn vốn tín dụng rẻ và quá dễ dãi trong các năm gần đây.

Có được nguồn vốn rẻ, các doanh nghiệp đã đầu tư tràn lan, kém hiệu quả và chỉ đạt được lợi nhuận trên vốn đầu tư bình quân 14%- 15% trong ba năm qua trong khi lãi suất tiền gửi ngân hàng hiện nay vẫn gần 20%. Hậu quả lả các doanh nghiệp đang hàng ngày làm mất giá trị vốn đầu tư của cổ đông.

Do vay nợ ngân hàng nặng nề trong khi các kênh huy động vốn khác còn hạn chế, các doanh nghiệp đang chịu tác động rất lớn từ các chính sách vĩ mô đặc biệt là chính sách tài chính tiền tệ. Nhưng lãnh đạo các doanh nghiệp chỉ không ngồi yên và than thở về ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô, mà phải tự đại phẫu doanh nghiệp của mình ở tầm vi mô, mạnh dạn cắt bỏ hoạt động làm ăn thua lỗ và tăng năng suất lao động để cứu doanh nghiệp không rơi tự do vào bờ vực phá sản.

Lãi suất cao và khủng hoảng bắt nguồn từ vay vốn quá dễ dãi từ ngân hàng.

Khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008 cũng bắt nguồn từ việc tăng trưởng tín dụng tràn lan và các khoản cho vay quá dễ dãi hay còn gọi là vay dưới chuẩn (subprime) của hệ thống ngân hàng.

Tại Việt nam, tổng dư nợ/GDP của Việt Nam hiện nay là 120%. Tức là cứ 1.2 đồng số dư vốn vay bơm cho nền kinh tế thì mới chỉ giúp tạo ra 1 đồng giá trị gia tăng. Đây là mức đòn bảy rất cao của các nền kinh tế đã vượt chúng ta 10-20 năm. Ví dụ hiện nay Thái Lan (100%), Hàn Quốc (80%). Điều nhấn mạnh là mức tăng trưởng dư nợ này chủ yếu được tạo ra trong thời kỳ năm năm gần đây từ 2006-2011. Riêng trong giai đoạn 2008-2010 dư nợ cho vay của hệ thống Ngân hàng Việt Nam tăng 200% và đạt khoảng 110 tỷ USD. Đây là nhân tố dẫn đến lạm phát cao do lượng tiền quá lớn đã được bơm vào nền kinh tế.

Một trong những hậu quả của thực trạng vay nợ quá nhiều là, doanh nghiệp tổ chức sản xuất và tạo ra lợi nhuận để ngân hàng lấy gần hết. Ví dụ tại Công ty Sông Đà Thăng Long, chúng tôi tính toán rằng trong năm 2010, doanh nghiệp cứ tạo ra 10 đồng lợi nhuận trước lãi vay (EBIT) thì mất hơn 5 đồng là để trả lãi ngân hàng với cơ cấu vốn vay/vốn chủ sở hữu hiện lên tới 13 lần.

Việc vay vốn quá dễ dãi cộng với thực tế của Việt Nam là chưa có thông lệ phá sản khi doanh nghiệp quá hạn trả gốc hay lãi vay đã dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp tìm cách vay vốn bằng mọi giá trong đó có cả hoạt động đảo nợ làm cho lãi suất cho vay cao lên. Đảo nợ là việc vay mới để trả khoản vay cũ từ chính ngân hàng hiện tại hoặc từ ngân hàng khác để tránh nợ quá hạn.

Hơn nữa, số lượng ngân hàng ở Việt Nam nhiều ngân hàng nhỏ và cạnh tranh khốc liệt về huy động vốn đặc biệt là các ngân hàng nhỏ đã dẫn đến việc đẩy lãi suất huy động và cho vay lên quá cao trong thời gian qua.

Các chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về lãi suất, thị trường mở, ổn định tỷ giá, tránh vàng và đô la hóa, v.v. theo chúng tôi chỉ có tác dụng một phần. Vấn đề lãi suất cao chỉ được giải quyết triệt để khi ở tầm vi mô các doanh nghiệp thực hiện các giải pháp mang tính đại phẫu. Và điều quan trọng hơn hết về dài hạn lãnh đạo doanh nghiệp cần có những thay đổi nhân thức nhằm quản lý và sử dụng đồng vốn hiệu quả, tránh đầu tư dàn trải mang tính cơ hội gây thất thoát và lãng phí vốn. Nguồn vốn, bao gồm cả vốn cổ đông, cần được sử dụng có trách nhiệm và có hiệu quả.

Các doanh nghiệp chỉ tạo được tỷ suất lợi nhuận bình quân 14% trong ba năm qua

Nghiên cứu của StoxPlus chỉ ra rằng chỉ số Lợi nhuận trên Vốn Đầu tư (ROIC - Return on Invested Capital) của gần 800 doanh nghiệp trong vòng ba năm qua (2008-2010) chỉ ở mức 14.5%. Vốn đầu tư ở đây bao gồm vốn chủ sở hữu (hay của cổ đông) và vốn vay (chủ yếu của ngân hàng). Con số này cho thấy rằng, về lâu về dài, nếu mặt bằng lãi suất vẫn cao trên 14% thì cổ đông và nhà đầu tư chỉ nên đem tiền đi gửi ngân hàng để thu về mức lợi nhuận cao hơn và rủi ro thấp hơn. Nếu tính cà trượt giá thì lợi nhuận thực tế cho cổ đông sẽ không còn được bao nhiêu.

Một khi lãi suất cho vay của ngân hàng còn chưa giảm xuống dưới mức 14-15%% mà vẫn có nhiều doanh nghiệp xin giải ngân thì chúng tôi tin rằng nó chỉ rơi vào các khả năng: (i) đầu tư vào các dự án mang tính rủi ro cao (như bất động sản và chứng khoán) để mong chờ có lợi nhuận cao (ii) doanh nghiệp gặp vấn đề thanh khoản hay thiếu tiền hoạt động và sẵn sàng chấp nhận lãi suất cao; hoặc (iii) Đảo nợ.

Với tỷ suất lợi nhuận thấp chỉ ở mức 14-15%, thì về về phía doanh nghiệp nếu tiếp tục vay thêm vốn ngân hàng ở mức cao như hiện nay, thì sẽ không những không giữ được nổi doanh nghiệp mà còn sẽ tiếp tục làm mất vốn của cổ đông.

Doanh nghiệp có thể làm gì? Chúng ta đã chứng kiến nhiều doanh nghiệp đã có những bước thay đổi chiến lược quan trọng và hơn ai hết họ là những người duy nhất có thể thay đổi được cục diện cho chính doanh nghiệp mình. Cộng đồng nhà đầu tư đã thảo luận về sự thành công của Công ty Chứng Khoán Sài Gòn SSI không dấn sâu hơn nữa vào hoạt động tự doanh vốn gây tổn thất chính cho các công ty chứng khoán hay Vincom mạnh dạn dẹp công ty chứng khoán. Thị trường cũng bàn tán rằng bầu Đức của Hoàng Anh Gia Lai đã nhanh chóng chớp thời cơ bán rừng cao su cho Temasek để thu về hơn 54 triệu USD và huy động 90 triệu đô "cứu" mảng kinh doanh bất động sản và ở đâu đó có nhiều doanh nghiệp đã có được đối tác lớn nước ngoài hoặc cắt bỏ được nhiều tài sản không sinh lời, v.v. Và còn nhiều câu chuyện thành công khác trong bối cảnh khủng hoảng này.

Trên góc độ vi mô, sẽ tùy vào đặc thù từng doanh nghiệp, trong từng ngành hoạt động nhưng tôi cho rằng các nhóm hoạt động sau sẽ luôn hữu ích cho lãnh đạo các doanh nghiệp cân nhắc:

Lãi suất cao: cũng từ chiến lược "quả mít"

Một thực tế khó phủ nhận rằng chiến lược phổ biến của các doanh nghiệp Việt Nam là chiến lược "quả mít". Tức là phát triển mạnh tất cả các mảng khi có điều kiện. Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng trong đó việc trong một thời gian dài được tiếp cận nguồn vốn một cách dễ dãi, đi xin, chạy được dự án về đất đai và tài nguyên v.v.. Nhiều doanh nghiệp khi thảo luận với nhà đầu tư và khi được hỏi về nhu cầu vốn thì câu trả lời được đưa ra là "các anh đầu tư bao nhiêu cũng được, chúng tôi sẽ có dự án sử dụng hết". Và khi đó đối tác đã không bao giờ gặp lại doanh nghiệp. Hoặc một thực tế khi doanh nghiệp ăn nên làm ra và có hoạt động cốt lõi làm ăn tốt thì lại nhảy sang bất động sản thay vì tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất và củng cố thị phần. Nhiều doanh nghiệp cũng đã sa đà vào chứng khoán và đầu tư tài chính.

Nhiều doanh nghiệp vẫn cứ "loay hoay" không biết điều chỉnh ra sao chiến lược kinh doanh của mình. Tuy nhiên cũng có những doanh nghiệp đã thành công kể cả trong bối cảnh khủng hoảng này. Công ty FPT là một ví dụ. Việc quyết định rút khỏi EVN-Telecom (vốn đòi hỏi đầu tư sẽ cực lớn) cũng như quyết định chuyển nhượng quyền thuê 50 năm khu đất 2700 m2 tại số 89 Láng Hạ, Hà Nội thu về 400 tỷ đồng phục vụ chiến lược mới của công ty.

Giải bài toán thiếu vốn lưu động: vẫn thời sự như lúc chưa khủng hoảng

Vẫn biết rằng đây là vấn đề đau đầu hàng ngày của lãnh đạo doanh nghiệp trong bối cảnh khó khăn này. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thực hiện tốt mục tiêu giảm vòng quay phải thu khách hàng, giảm vòng quay hàng tồn kho và tăng vòng quay phải trả khách hàng. Tuy nhiên khi tiếp cận vấn đề thực tiễn tại nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp chưa có một Giám đốc Tài chính (CFO) đích thực thì quả thực vẫn chưa được chú ý nhiều.

Ví dụ trong một chuyến khảo sát doanh nghiệp ngành nhựa tại Bình Dương. Mở đầu câu chuyện với chúng tôi lãnh đạo doanh nghiệp than thở "chúng tôi đang thiếu trầm trọng cả vốn lưu động". Nhưng chúng tôi ghi nhận trong lúc đang họp thì một cán bộ kế toán vào xin giám đốc phê duyệt lệnh thanh toán hóa đơn nhà cung cấp nguyên liệu từ nước ngoài. Khi rà soát sau đó thì chúng tôi thấy rằng hóa đơn hơn 200 ngàn USD này đáng ra có thể được trì hoãn việc thanh toán thêm 10 ngày nữa, nhưng lãnh đạo không để ý và đã ký ngay lệnh để ngân hàng thanh toán. Chúng tôi cũng tính toán rằng tổng giá trị thanh toán hàng năm cho nhà cung cấp tại công ty khoảng 500 tỷ đồng. Và nếu như doanh nghiệp chú ý hơn đến việc quản lý dòng tiền, đến từng hóa đơn thì doanh nghiệp đã tiết kiệm được một khoản chi phí lãi vay tương đương 500 tỷ * 20% * 10/365 ngày =2.7 tỷ đồng. Riêng một khoản tiết kiệm này đủ để trả lương cho một CFO đẳng cấp quốc tế về giúp điều hành quản trị tài chính. Thực tế kế toán thanh toán và kế toán trưởng của Công ty này đã không thực hiện đúng vai trò của mình.

Tăng năng suất lao động: chưa bao giờ cần hơn lúc này

Quan sát của chúng tôi trong quá trình làm việc với các doanh nghiệp ngành xây dựng và nhiều ngành khác cho thấy trong khi quy mô doanh nghiệp Việt Nam còn quá manh mún về quy mô, năng suất thấp và dựa trên cạnh tranh về giá là chủ yếu.

Trong khi doanh nghiệp vẫn lo đối phó với lãi suất cao thì những bài toán quản lý vi mô tại doanh nghiệp lại chưa được chú ý nhiều. Tại một cuộc thi tay nghề xây dựng do Công ty Bình Thiên An tổ chức thì cho thấy một thực tế là cứ một công nhân phu hồ có thể cùng một lúc phục vụ được 10 thợ xây lành nghề và một thợ xây lành nghề có thể xây được tới 20 m2/ngày. Trong khi đó kết quả rà soát của chúng tôi tại các đội xây dựng của nhiều công ty thì thực tế là 100 thợ phu hồ phục vụ 150 thợ xây tay nghề cao và có hơn 25 kỹ sư quản lý công trình. Mỗi thợ xây tay nghề - những người trực tiếp quyết định năng suất xây dựng - có năng suất thực tế bình quân 5-7 m2/ngày. Như vậy, so sánh hai số liệu này đã cho thấy nhiều điều bất cập trong việc quản trị doanh nghiệp. Đây là bài toán về quản trị con người, quản trị năng suất lao động, quản trị chi phí sản xuất. Nếu như giảm số lượng thợ phu hồ và tăng lương thật cao cho thợ xây lành nghề và lãnh đạo doanh nghiệp lưu tâm hơn thì sẽ giúp cải tiến lớn về năng suất lao động.

Trao đổi với chúng tôi, ông Trịnh Thanh Huy - Chủ tịch của Công ty Bình Thiên An - đơn vị chủ đầu tư của Diamond Island đã cho rằng: "nếu như các nhà thầu điều tiết hợp lý hơn tỷ lệ sử dụng lao động tại công trường và có mức thu nhập thỏa đáng khích lệ hơn thì năng suất lao động có thể tăng từ 3-5 lần. Trong khi đó, chi phí nhân công có thể giảm 30-40% hay nói cách khác là giá thành sản phẩm có thể giảm 5-10%. Ngoài ra các chi phí quản lý chung như dàn giáo, thiết bị, khấu hao cũng giảm đáng kể". Ông Huy cũng nhấn mạnh thêm rằng ở đây không có gì là bài toán công nghệ phức tạp, không có gì "ngoài tầm" của một nhà quản lý có kỹ năng cơ bản.

Đồng bộ sản xuất: có thể giúp giảm đến 20% giá thành (khảo sát ngành xây dựng)

Một trong các phát hiện của chúng tôi trong chuyến thị sát ngành xây dựng là vấn đề đồng bộ sản xuất chưa được các bên chú ý. Đơn cử trong ngành sản xuất bê tông. Các cấu kiện bê tông như cọc, đầm, v.v. chưa được thiết kế đồng bộ và chưa có mức độ chuẩn hóa cao nên tạo ra sự lãng phí rất lớn. Trong sản xuất cọc bê tông, nguyên vật liệu chiếm 50-70% giá bán ra cho khách hàng, chi phí khấu hao chiếm 5-10%, chi phí lãi vay chiếm 5-10% và còn lại 10-40% là chi phí nhân lực sản xuất và thi công. Theo tính toán sơ bộ của chúng tôi, nếu sản phẩm cọc bê tông được thiết kế đồng bộ thì sẽ giúp giảm giá thành đến 20% nhờ việc giảm thời gian thiết kế, tiết kiệm được 5-10% cho nguyên vật liệu, 3-5% cho khấu hao và 5-15% chi phí nhân công và chi phí vốn.

Thực tế lãi suất không phải là công cụ cứu cánh duy nhất cho các doanh nghiệp và ngược lại. Còn rất nhiều bài toán vi mô khác cần lời giải như cơ cấu vốn vay và vốn chủ sở hữu, quản lý rủi ro lãi suất, v.v. Đây là cách mà các doanh nghiệp cần suy nghĩ và hành động không chỉ trong bối cảnh quy mô doanh nghiệp manh mún và áp lực cạnh tranh cực kỳ khốc liệt trong ngành mà còn là bài toán để tồn tại, cạnh tranh và phát triển bền vững.

Thuân Nguyễn, CEO, StoxPlus Corporation

Bình chọn bài viết
Điểm trung bình : Tổng điểm : 1 / 1
Bình chọn :
Đánh giá bài viết
Đánh giá bài viết
Họ và tên :
Email :
Nội Dung :
 

Tin mới hơn
Không có
Tin cũ hơn