MÔ HÌNH XẾP HẠNG
ONLINE
Tổng số người truy cập : 233390
LIÊN HỆ TRỰC TUYẾN
Moody's, Fitch và Standard & Poor's đã đánh đổi uy tín dài hạn lấy doanh thu trước mắt. Họ không đáng tin.
Simon Johnson là Giáo sư tại trường MIT Sloan và cộng tác viên cao cấp tại Viện Peterson. James Kwak là sinh viên luật tại ĐH Yale và từng kinh doanh mạo hiểm trong lĩnh vực phần mềm. Những người chỉ trích chính phủ thường nói khu vực tư nhân thứ gì cũng tốt hơn. Họ khẳng định các tập đoàn tư nhân được quản lý tốt hơn nhờ sự kết hợp của chế độ trọng dụng nhân tài trong nội bộ công ty, áp lực từ phía cổ đông và động cơ lợi nhuận. Tuy vậy, những lời hoa mỹ chống chính phủ này đang gặp phải một vấn đề lớn: nhiều tập đoàn tư nhân không hề được điều hành tử tế là bao. Ví dụ như các cơ quan định mức tín nhiệm Moody’s, Standard & Poor’s và Fitch. Những công ty này xếp hạng trái phiếu do chính phủ và doanh nhiệp phát hành theo các định mức từ AAA đến D. Các định mức này được cho là phản ánh khả năng thanh toán của trái phiếu. Suốt thời bùng nổ, họ đóng dấu AAA cho hàng ngàn trái phiếu có các danh mục rủi ro tín dụng làm tài sản bảo đảm (CDO). Danh mục này lại là các chứng khoán nợ dưới chuẩn (giờ còn được biết đến với cái tên “tài sản độc hại”). Trong vòng hai năm qua, trên 60% chứng khoán có các danh mục cho vay thế chấp mua nhà làm tài sản đảm bảo (MBS) đã bị đánh tụt hạng, nhiều chứng khoán còn tụt xuống hạng đầu cơ. Rõ ràng là chúng chẳng an toàn như chứng khoán nợ của chính phủ Mỹ. Đến bây giờ thì đó đều chỉ là tin cũ. Tuy vậy, Kevin Hall từ McClatchy lại đưa ra vài thông tin mới khá thú vị: "Moody's trừng phạt các quan chức dám đặt câu hỏi tại sao công ty lại liễu lĩnh đặt lợi nhuận lên trên danh tiếng định mức tín nhiệm đầu tư của mình. "Thay vào đó, Moody’s đề bạt những người đã lãnh đạo bộ phận “trái phiếu cơ cấu”, những người đã giúp Phố Wall đóng gói các khoản vay thành chứng khoán bán cho nhà đầu tư. Ban giám sát không thiếu những nhân viên từng định mức cao nhất cho các khoản vay thế chấp không lâu sau đó bị đánh tụt xuống hạng đầu cơ." Câu chuyện này được dẫn chứng bằng nhiều cuộc phỏng vấn với chính người trong cuộc. Các tổ chức định mức tín nhiệm đều gặp phải mâu thuẫn lợi ích. Để có doanh thu, họ phải làm vừa lòng khách hàng, tức ngân hàng đầu tư. Tuy vậy, muốn định mức tín nhiệm của mình có giá trị, họ phải duy trì nhiều tiêu chuẩn phân tích và đánh giá. Mâu thuẫn này không phải hiếm gặp trong giới kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp tồn tại mâu thuẫn giữa doanh thu trong ngắn hạn và chất lượng trong dài hạn. Nhà thầu xây dựng giảm chất lượng công trình thời bùng nổ để kịp giao nhà, khiến hàng ngàn căn nhà chưa ở nhưng đã xuống cấp nghiêm trọng. Tương tự như vậy, một công ty phần mềm bán các sản phẩm phức tạp với lời hứa với khách hàng về các tính năng mới, nhưng khi hứa rồi đội phát triển sản phẩm mới bắt tay lập trình các tính năng này. Nhiều doanh nghiệp phần mềm đã sup đổ vì bộ phận bán hàng cũng như nhà quản lý đưa ra những lời hứa trên trời. Hoặc đôi khi không thể giao sản phẩm đúng hẹn trừ khi làm giảm chất lượng sản phẩm, một điều không thể ngay lập tức phát hiện ra. Đáng tiếc là đa số doanh nhiệp không có biện pháp hữu hiệu để cân bằng những mâu thuẫn này. Kẻ chiến thắng thường là bộ phận bán hàng, những người mang lại doanh thu. Trong văn hóa doanh nghiệp Mỹ, những quản lý “trên tuyến đầu” phải chịu trách nhiệm nếu thua lỗ thường coi thường những quản lý kiểu “viên chức”. Quản lý rủi ro, kế toán và giám sát đều bị xếp vào loại “viên chức”. Kết quả là, ở Moody’s, người ta lờ đi để bảo vệ dòng doanh thu trước mắt nhưng lại tạo ra thảm họa sau này. Có hai giải pháp cho vấn đề này. Thứ nhất là các cổ đông với khả năng giám sát công ty của chính mình để đảm bảo nhà quản lý luôn tối đa hóa lợi ích của cổ đông. Tuy vậy, “lợi ích cổ đông” lại chính là giá trị cổ phiếu trong ngắn hạn, chẳng ai bị ép phải nắm giữ lâu dài cổ phiếu Moody’s. Vì thế công ty ngày càng gắn bó hơn với giá trị cổ phiếu của mình. Và điều này lại càng tiếp thêm sức mạnh cho bộ phận bán hàng vì họ mang về số doanh thu cần thiết nhằm hoàn thành kế hoạch lợi nhuận. Giải pháp thứ hai là thị trường; theo lý thuyết, khách hàng nên tìm đến các công ty đảm bảo chất lượng hàng hóa. Nhưng thực tế không diễn ra như vậy. Tưởng tượng ó hai công ty phần mềm: Công ty A tối đa hóa doanh thu ngắn hạn với cái giá là chất lượng sản phẩm, Công ty B thì không. Kết quả là giá cổ phiếu A tăng và nó sẽ dùng số cổ phiếu tăng giá giả tạo này để mua lại Công ty B. Cuối cùng sẽ chỉ còn một cuộc đua giữa các đối thủ đều giảm chất lượng để tối đa hóa doanh thu. Đó có lẽ là điều đang xảy ra ở một thị trường độc quyền tập đoàn như thị trường định mức tín nhiệm, chiến lược dài hạn chẳng khó chọn vì chẳng có ai định duy trì chất lượng sản phẩm cả. Trên hết, định mức tín nhiệm là một thị trường độc quyền tập đoàn được chính phủ bảo trợ. Moody's, S&P và Fitch là ba “tổ chức định mức tín nhiệm được công nhận trên toàn quốc” (NRSRO) lớn nhất. Nhiều quy định của bang và liên bang ủy quyền cho NRSRO việc định mức tín nhiệm, giúp họ tránh được mọi cạnh tranh. Đó là lý do vì sao cổ phiếu của Moody’s vẫn được giao dịch ở mức giá 24 đô la; dù thời bùng nổ kinh tế có sai lầm đến đâu, họ vẫn tồn tại. Vì thế hiện nay, thị trường có vẻ như đang đối diện với một lựa chọn khó khăn giữa một bên là thị trường độc quyền tập đoàn được chính phủ bảo hộ họat động không hiệu quả và một thị trường nơi các thành viên chỉ biết trông chờ vào sự đánh giá của chính mình, đối với nhà đầu tư, điều này có khi còn tồi tệ hơn. Cải cách tổ chức định mức tín nhiệm là một bộ phận quan trọng trong cuộc cải cách nguyên tắc tài chính. Nhưng hơn thế, các cơ quan định mức tín nhiệm là một ví dụ tiêu biểu cho thấy không thể dựa vào thị trường và cổ đông nếu muốn buộc doanh nghiệp phải hoạt động sao cho đảm bảo lợi ích của xã hội. Khi đã tính hết mọi nhẽ, người ta thường nhắc tới thị trường tự do, nhưng các doanh nghiệp tạo nên thị trường đó hiếm khi hành động “hợp lý”. Có lẽ thị trường tự do là hệ thống kinh tế tốt nhất hiện có, nhưng đừng vì thế mà đi đến kết luận rằng cái gì cũng nên giao cho thị trường quyết định. Theo WashintonPost |
- Sáu sai lầm trong quản lý nguồn vốn - Phần 1
- Sáu sai lầm trong quản lý nguồn vốn - Phần 2
- Sáu sai lầm trong quản lý nguồn vốn - Phần 3
- Ngân hàng Việt Nam - nhìn lại mình từ đánh giá của Moody’s
- Đo sức khỏe của 48 ngân hàng Việt Nam












