Những đặc điểm thú vị về Ngân hàng phát triển Việt Nam

Tổng số vốn VDB đã giải ngân cho các dự án đầu tư trong giai đoạn 2006-2010 là 83 nghìn tỷ đồng, dư nợ VND đến 31/12/2010 khoảng 90 nghìn tỷ đồng. Những rủi ro tác nghiệp gần đây cùng cơ chế tài chính thiếu lá chắn, khiến nhiều người lo lắng đến an nguy của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB). Dự phòng rủi ro cào bằng ở mức 0.5%/ tổng tài sản rủi ro

Theo một số ý kiến từ giới phân tích, cần chuyển đổi mô hình hoạt động của VDB, để không những bảo toàn giá trị mà còn nâng cao khả năng sinh lời, bên cạnh giảm dần sự ỷ lại của đối tượng thụ hưởng nguồn vốn tín dụng nhà nước.

"Ghen tỵ" với VDB

Ông Nguyễn Quang Dũng, Tổng giám đốc VDB cho biết, sau 5 năm hoạt động, tổng dư nợ tín dụng đầu tư của VDB đến 31/12/2010 khoảng 90 nghìn tỷ đồng, đạt tốc độ tăng bình quân 20%/năm, chiếm 3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Theo đó, VDB đang quản lý 2.445 dự án với tổng số vốn vay theo hợp đồng tín dụng là 168.846 tỷ đồng, trong đó có 106 dự án nhóm A với số vốn vay 73.583 tỷ đồng. Ngoài ra, trong 5 năm qua, VDB còn cho vay khoảng 5 tỷ USD tín dụng xuất khẩu.

Còn  đối với nguồn vốn huy động thì sao? Khác với hoạt động của các ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại), muốn có nguồn vốn hoạt động thì cổ đông phải đóng góp, huy động trên thị trường, đôn đáo vay mượn của nhau, khấu từ lợi nhuận… và một phần từ Ngân hàng Nhà nước thông qua nghiệp vụ tái cấp vốn và giao dịch trên thị trường mở (OMO) thì nguồn vốn của VDB hoàn toàn được ngân sách bao cấp.

Trong 5 năm qua, VDB huy động thêm được 180 nghìn tỷ đồng, tương đương 9,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu VDB do Chính phủ bảo lãnh.

Một nguồn vốn khác chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu nguồn của VDB là quản lý vốn ODA và các quỹ quay vòng của Chính phủ với con số khoảng 9,5 tỷ USD.

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, nếu bị thiếu vốn thì VDB huy động từ dân cư, tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng, nhà nước cấp bù lãi suất sau.

Đầu vào là vậy, còn khi cho vay thì VDB cũng không phải vất vả tìm dự án tốt để giải ngân như mọi ngân hàng khác. Bởi lẽ, VDB thực hiện cơ chế cho vay theo chỉ đạo của nhà nước, dự án ở đâu, VDB cho vay ở đó.

Bởi vậy, với tư cách hoạt động ngân hàng, các tổ chức tín dụng phải "ghen tỵ" với VDB vì được bao cấp cả số lượng nguồn vốn, lẫn lãi suất đầu vào cũng như địa chỉ giải ngân.

Một  điều đặc biệt khác là nếu được vay vốn của VDB, đối tượng thụ hưởng sẽ được hưởng mức lãi suất rất thấp. Theo cơ chế hiện hành, VDB đang áp dụng mức lãi suất cho vay trung dài hạn, cho vay lại từ nguồn vốn ODA, cho vay ngắn hạn, tín dụng xuất khẩu đều cùng một mức 11,4%/năm. Tất nhiên, mức lãi suất này chỉ áp dụng cho các dự án của doanh nghiệp nhà nước.

Gần  đây, VDB có áp dụng cho vay theo cơ chế thị trường nhưng mới dừng ở dạng thí điểm. Vì lẽ đó, sự thèm thuồng đối với VDB không chỉ nhìn ở góc độ là một tổ chức kinh doanh tín dụng mà còn ở người vay vốn.

Nên bao cấp như thế nào?

Do hình thức là “ngân hàng”, nên mỗi khi Ngân hàng Nhà nước “điểm danh, điểm diện” thì vẫn có tên VDB.

Tuy nhiên, do nguồn vốn, cơ chế hoạt động trực thuộc Bộ Tài chính “quản” nên nếu có hỏi Ngân hàng Nhà nước rằng: nguồn vốn VDB và cơ chế hoạt động như thế nào, giải ngân bao nhiêu, cho dự án nào, tỷ lệ trích lập quỹ dự phòng rủi ro ra sao thì kể cả lãnh đạo vụ nghiệp vụ đến lãnh đạo cao nhất của Ngân hàng Nhà nước đều trả lời “không biết”!

Chưa kể, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước thì tất cả các tổ chức tín dụng phải báo cáo thông tin tín dụng (huy động, cho vay, phân loại nợ, danh sách khách hàng…) về kho dữ liệu của Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC), nhưng đến nay, CIC vẫn chưa thể tiếp cận các thông tin nghiệp vụ từ VDB.

Cũng vì mô hình “chung chiêng” giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính, nên việc trích lập quỹ dự  phòng rủi ro của VDB rất bất ổn. Theo quy định ngành ngân hàng, đã hoạt động với tư cách một ngân hàng thì việc trích lập phải tuân thủ theo nguyên tắc: mức độ trích lập phụ thuộc vào mức độ rủi ro từng nhóm nợ nhưng ở VDB, tỷ lệ trích lập đều chung một mức 0,5%/tổng dư nợ.

Điều này khiến nhiều người băn khoăn: VDB có phải là một tổ chức tín dụng hay không?

Từ  thực tế này, nhiều chuyên gia cho rằng, để mang lại hiệu quả cho nguồn vốn tín dụng nhà nước thì đầu tiên phải đi từ việc xử lý mô hình của VDB theo hướng phù hợp hơn.

Theo đó, nên quan niệm VDB là tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động và kiểm soát an toàn như đối với các tổ chức tín dụng khác. Hiện tại, mô  hình Ngân hàng Chính sách xã hội cũng sử dụng vốn tín dụng nhà nước trong lĩnh vực tài chính vi mô, họ chấp hành đầy đủ chuẩn mực an toàn của Ngân hàng Nhà nước nhưng nợ xấu luôn dưới 1%/tổng dư nợ.

Thứ hai là cách thức giải ngân vốn tín dụng nhà nước như thế nào. Hiện nay, với cơ chế thiếu lá chắn bảo vệ (trích lập dự phòng không đủ an toàn) lại để cho một đơn vị quản lý một lượng vốn ngân sách rất lớn là hết sức rủi ro vì “bỏ trứng vào một giỏ”.

Vì thế, một chuyên gia đề xuất rằng, nên giải ngân tín dụng nhà nước thông qua hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước vì cấu trúc quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại an toàn hơn so với VDB. Ngân hàng thương mại có hệ thống quản trị rủi ro nội bộ, chịu sự thanh kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước, hàng năm phải công bố báo cáo tài chính qua kiểm toán độc lập…

Điều này đã được kiểm chứng qua việc giải ngân vốn kích cầu năm 2008. Toàn hệ thống ngân hàng đã giải ngân khoảng nửa triệu tỷ đồng vốn kích cầu. Hoặc giải ngân vốn dự án tài chính nông thôn 1, 2 và 3 vay ODA của WB qua đầu mối bán buôn là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một ví dụ.

Hiện nay, BIDV là định chế quản lý phần lớn số vốn dự án trên và thực hiện vai trò bán buôn cho hơn 10 ngân hàng thương mại cổ phần khác. Theo đánh giá chung, hình thức giải ngân này vừa bảo toàn được vốn, vừa đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao.

Thứ  ba là xử lý vấn đề bao cấp tín dụng. Khi thực hiện bao cấp vốn cho dự án từ đầu vào, đầu ra đến giá vốn, đặc biệt là hiện tại, VDB bắt đầu thí điểm cho vay thỏa thuận đối với doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã tạo ra cơ chế thiếu minh bạch: nửa thị trường, nửa bao cấp, khiến cho đối tượng vay vốn không rạch ròi, dễ dẫn đến xin - cho và tiêu cực.

Ngoài ra, theo các chuyên gia, rất cần thiết phải phân loại tính chất dự án được thụ hưởng nguồn vốn bao cấp. Theo đó, Nhà nước nên tập trung vốn cho các lĩnh vực điện, đường, trường, trạm, y tế, bảo vệ môi trường. Còn đối với những dự án kinh tế, kể cả dự án trọng điểm, cũng chỉ nên cho hưởng lợi trong một thời gian ân hạn nào đó về lãi suất, dư vay, sau đó thì phải để họ tự hạch toán và cân đối thu chi.

Tiền Nhà nước nên ít rủi ro?

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định 18 ngày 25/4/2007, sửa đổi một số điều của Quyết định 493, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng rủi ro theo 5 nhóm.

Đối với VDB, theo Quyết định 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007 của Chính phủ và Thông tư số 111/2007/TT-BTC ngày 12/9/2007 về quy chế quản lý đối với VDB thì ngân hàng này được hưởng một cơ chế, mà nếu xét về mặt an toàn thì độ rủi ro chỉ lớn hơn số không một chút.

Trước hết, các văn bản trên khẳng định: “Hoạt động của VDB không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi”.

Tiếp đó, trong các văn bản này đều yêu cầu VDB phải phân loại nợ theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước nhưng trích lập quỹ dự phòng rủi ro lại có tỷ lệ hết sức… tượng trưng: 0,5%/dư nợ bình quân đối với tất cả các loại tài sản có rủi ro, bao gồm từ cho vay đầu tư, cho vay tín dụng xuất khẩu, nghĩa vụ bảo lãnh tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu và bảo lãnh dự thầu và thực hiện hợp đồng của ngân hàng này.

Những tưởng, “mức 0,5%” nói trên sẽ được thay đổi nhưng 4 năm sau, khi xây dựng “Nghị định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu Nhà nước”, các cơ quan chấp bút văn bản này vẫn giữ nguyên tỷ lệ trích lập nói trên. Điều này khiến nhiều người nghĩ rằng, 100% dư nợ tín dụng đầu tư và xuất khẩu của Nhà nước qua VDB gần như không có rủi ro!

Ngân sách có kịp… đón lõng?

Trước cách thức trích lập dự phòng rủi ro như trên của VDB, người viết đã đặt câu hỏi với một nữ chuyên gia tài chính: phải chăng, tiền của Nhà nước thì ít rủi ro so với tiền vay của người dân và tổ chức kinh tế? Vị chuyên gia này không khỏi ngạc nhiên: “Càng tiền của Nhà nước, càng nhiều rủi ro và trích lập ở mức đó là hết sức mạo hiểm”.

Theo bà, ba năm trước đây, khi VietinBank thực hiện cổ phần hóa, Nhà nước phải tái cấp vốn khoảng 3.000 tỷ đồng để ngân hàng này có nguồn bù đắp để trích lập làm dày quỹ dự phòng rủi ro. Bởi nếu không, VietinBank sẽ phải cấu nguồn khác vào để trích lập đủ. Lúc đó, chi phí sẽ ăn vào vốn điều lệ thực, làm cho lỗ lũy kế tăng lên, rất khó cổ phần hóa.

Một nguyên tắc của Basel đối với an toàn vốn là phải trích lập dự phòng tương ứng mức độ rủi ro, chứ không phải đợi đến lúc rủi ro xảy ra mới hạch toán vào chi phí thì không thể lấy đâu ra nguồn bù đắp.

“Chưa cần xông vào số liệu, chỉ cần nhìn vào cơ chế, đã thấy luôn rủi ro. Với mức trích lập 0,5%/tổng dư nợ cho toàn hệ thống, đó là mức quá thấp so với mức độ rủi ro và không khác gì quả bom nổ chậm”.

Có thể là vội vàng khi chưa nhìn thấy những số liệu cân đối tài chính của VDB mà đã đánh giá dư nợ của VDB là “bom nổ chậm”, nhưng nhìn vào cơ cấu nguồn vốn và cơ chế hoạt động của ngân hàng này, sẽ có cảm nhận, VDB càng cho vay càng thấy…lo!

Thứ nhất, rất nhiều lần, ông Nguyễn Quang Dũng, Tổng giám đốc VDB khẳng định: ngân hàng này hoạt động hoàn toàn phi lãi, chủ yếu thực hiện nhiệm vụ cung cấp tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu theo chỉ đạo của Chính phủ. Một vấn đề đặt ra, nếu hoạt động phi lãi thì tất nhiên, VDB không thể lấy đâu ra nguồn để trích lập dự phòng rủi ro.

Tuy nhiên, vị nữ chuyên gia nói trên cho rằng, đã hoạt động tín dụng thì phải có rủi ro, đã có rủi ro thì phải trích lập dự phòng. Khi trích thì phải đưa vào chi phí, thiếu chi phí thì nhà nước phải cấp vào. Không thể có chuyện nay mai rủi ro xảy ra thì lấy đâu nguồn xử lý?

Thứ hai, nguồn vốn của VDB hoàn toàn là ngân sách chuyển sang và vốn vay ODA, có những năm, tỷ lệ vốn ODA chiếm tới 40% cơ cấu nguồn. Một điều đáng quan tâm là tín dụng của VDB chủ yếu là trung - dài hạn, giả định rằng, đến hạn trả nợ nhưng không thu hồi được nợ thì không hiểu VDB sẽ xoay xở như thế nào?

Đặc biệt, trong các dự toán ngân sách ngắn hạn và dài hạn của Chính phủ, chưa bao giờ nhắc đến khoản mục dự phòng bù đắp hay đón lõng rủi ro nếu VDB mất vốn. Rất có thể, lúc đó ngân sách sẽ è cổ ra gánh vác nhưng không lẽ, với cả trăm nghìn tỷ đồng mà lại “mất bò mới lo làm chuồng”?

Được “hoán cải” từ Quỹ Hỗ trợ phát triển, từ 1/7/2006, VDB trở thành Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Mang danh là “ngân hàng” nhưng thực tế, VDB chỉ “đánh trống ghi tên” ở Ngân hàng Nhà nước còn toàn bộ nguồn vốn lại ở Bộ Tài chính. Vì thế, khi nhận thấy hoạt động của VDB không tuân thủ theo các chuẩn mực an toàn (như nói trên), không ít lần Ngân hàng Nhà nước “mặt nặng mày nhẹ” nhưng đến nay, VDB vẫn “lạc lõng” giữa cộng đồng tổ chức tín dụng.

Một vấn đề đáng lưu ý khác, Quyết định 44/2007/QĐ-TTg quy định: “Trong thời hạn 120 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính, VDB phải công khai các báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, dù hoạt động đã 5 năm nay, nhưng ở mục “báo cáo thường niên” trên cổng thông tin của ngân hàng này vẫn trắng xóa.

Công bố số liệu về VDB

Tổng Giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) Nguyễn Quang Dũng vừa có bài viết đăng trên Chinhphu.vn, trong đó có công bố nhiều số liệu tài chính của ngân hàng này (không bao gồm số liệu về tỷ lệ nợ xấu).

Theo ông Dũng, tổng số vốn VDB đã giải ngân cho các dự án đầu tư trong giai đoạn 2006-2010 là 83 nghìn tỷ đồng, dư nợ VND đến 31/12/2010 khoảng 90 nghìn tỷ đồng, tăng hơn hai lần so với thời điểm đi vào hoạt động (0/7/2006), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm và chiếm khoảng 3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Cũng theo ông Dũng, tính đến nay, VDB đang quản lý 2.445 dự án với tổng số vay theo hợp đồng tín dụng là 168.846 tỷ đồng, trong đó có 106 dự án nhóm A với số vốn vay là 73.583 tỷ đồng.

Tín dụng đầu tư của VDB đã tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, xây dựng. Trong đó có các dự án, công trình Thủy điện Sơn La, nhà máy Lọc dầu Dung Quất, nhà máy Đạm Cà Mau, các dự án sản xuất phân bón DAP ở Hải Phòng, ở Lào Cai, các dự án sản xuất thép, cơ khí trọng điểm, tàu biển, đường ô-tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng ...


Nguồn: Chinhphu.vn

Theo ông Dũng, doanh số cho vay hoạt động tín dụng xuất khẩu của VDB đã đạt gần 5 tỷ USD trong các năm qua.


Nguồn: Chinhphu.vn

Đối với hoạt động quản lý nguồn vốn ODA, VDB đang quản lý cho vay lại đối với 412 dự án với tổng số vốn tương đương 9,5 tỷ USD.


Nguồn: Chinhphu.vn

Ông Dũng cũng cho biết, VDB đã được các tổ chức tài chính quốc tế (WB, AFD, Chính phủ Phần Lan...) tiếp tục giao quản lý các chương trình cấp nước từ khâu thẩm định, quyết định cho vay, kiểm soát chi, thu nợ... Chính phủ Nhật Bản, thông qua tổ chức JICA đã thống nhất với Chính phủ Việt Nam giao cho VDB trực tiếp triển khai Chương trình cho vay bảo toàn và tiết kiệm năng lượng, Ngân hàng Tái thiết Đức (KFW) đang tích cực làm việc với VDB để triển khai Chương trình xử lý nước thải khu công nghiệp cũng như Chương trình bảo vệ môi trường và vùng khí hậu...


Nguồn: Chinhphu.vn

Trong 5 năm, VDB đã huy động thêm tổng số vốn gần 180 nghìn tỷ đồng, bằng 9,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội cùng kỳ. Trong đó, vốn phát hành trái phiếu Chính phủ với thời hạn 2 năm, 3 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm và 15 năm là nguồn vốn lớn để VDB đầu tư cho các dự án dài hạn và có vai trò quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Nguồn vốn chủ sở hữu của VDB đến 31/12/2010 tăng 90%, tức là bằng 190% so với thời điểm nhận bàn giao từ Quỹ hỗ trợ phát triển.

Theo Baomoi & Doanhnhan.net

Bình luận

Tin Liên quan

Cùng Chuyên mục